Lời nói đầu
Hội nghị lần thứ IX của INTOSAI tổ chức tại Lima:
· Trong bối cảnh việc sử dụng thống nhất và hiệu quả các khoản công quỹ là một trong những đời hỏi thiết yếu đầu tiên cho việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên công và hiệu năng các quyết định của các cơ quan có thẩm quyền;
· Trong bối cảnh để đạt được mục tiêu này, không thể phủ nhận được rằng mỗi quốc gia cần phải có một cơ quan Kiểm toán tối cao được pháp luật đảm bảo tính độc lập;
· Trong bối cảnh các Cơ quan Kiểm toán Tối cao đang ngày càng trở nên cần thiết hơn khi Nhà nước đã và đang mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực kinh tế, xã hội và vì vậy phải hoạt động tuân theo những qui định của khuôn khổ tài chính vốn có:
· Trong bối cảnh các mục tiêu của Kiểm toán - cụ thể là việc sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn công quỹ; tăng cường sự lành mạnh trong quản lý tài chính; điều hành tuần tự các hoạt động tài chính; và thông tin liên lạc với các cơ quan đại chúng thông qua các báo cáo khách quan,... đang rất cần thiết cho sự ổn định và phát triển của nhà nước trong việc theo đuổi các mục tiêu của Liên Hợp quốc;
· Trong bối cảnh tại các hội nghị quốc tế của các cơ quan Kiểm toán Tối cao được tổ chức trước đó, các Phiên họp Toàn thể đã thông qua nhiều nghị quyết nhằm phổ biến những văn bản giấy tờ đã được toàn thể các quốc gia thành viên phê chuẩn.
Quyết định Ấn hành và phổ biến văn bản này với tiêu đề: “Tuyên bố Lima về các chỉ dẫn kiểm toán”.
I. Những qui định chung Khoản 1. Mục đích kiểm toán
Tên và việc thành lập cơ quan kiểm toán đã tồn tại từ rất lâu trong bộ máy quản trị tài chính công, ví dụ như việc quản lý các quỹ công dưới dạng thác quản. Kiểm toán tự nó không phải là một cứu cánh mà là một bộ phận không thể tách rời của cả một hệ thống kiểm tra nhằm phơi bày kịp thời những sai lệch so với các chuẩn mực đã được công nhận và những phạm vi nguyên tắc pháp lý, tính hiệu quả, hiệu năng và tính kinh tế của công tác quản lý các nguồn lực để từ đó có những biện pháp đúng đắn đối với từng trường hợp cụ thể, buộc các bên hữu quan lính nhận trách nhiệm, bồi dưỡng hoặc có những biện pháp để ngăn ngừa những hành vi tái phạm hay chí ít thì cũng làm cho nó khó có cơ hội xảy ra hơn.
Khoản 2. Kiểm toán trước và kiểm tra sau 1. Kiểm toán trước được tiến hành trước khi diễn ra sự kiện đánh giá lại các hoạt động tài chính và hành chính; kiểm toán sau là công tác được tiến hành sau khi đã được tiến hành sự kiện trên.
2. Tiến hành hiệu quả công tác kiểm toán trước là không thể tách rời với việc quản trị lành mạnh các quỹ thác quản của tài chính công. Công tác này có thể do một Cơ quan Kiểm toán Tối cao tiến hành hay cũng có thể do những cơ quan kiểm toán khác thực hiện.
3. Kiểm toán trước là do một Cơ quan Kiểm toán Tối cao thực hiện có lợi thế là ngăn ngừa thiệt hại ngay trước khi nó xảy ra, tuy nhiên nó cũng có những bất tiện là tạo nên khối lượng công việc quá lớn và xoá nhoà trách nhiệm theo như quy định của công pháp . Kiểm toán sau do Cơ quan Kiểm toán Tối cao thực hiện làm rõ trách nhiệm của bên hữu quan, có thể bồi thường cho những thiệt hại đã gây ra và có thể ngăn ngừa tái phạm.
4. Tuỳ vào địa vị pháp lý, điều kiện cụ thể và yêu cầu riêng của mỗi quốc gia mà Cơ quan Kiểm Toán Tối cao có thể tiến hành kiểm toán trước; còn kiểm toán sau là nhiệm vụ không thể thiếu được của bất cứ Cơ quan kiểm toán tối cao nào, bất kể nó có tiến hành kiểm toán trước hay không.
Khoản 3. Kiểm toán nội bộ và kiểm toán từ bên ngoài
1. Kiểm toán nội bộ được thành lập trong nội bộ đơn vị hoặc cơ quan, trong khi kiểm toán từ bên ngoài không phải là một bộ phận hoặc thuộc cơ cấu tổ chức của đơn vị được kiểm toán. Cơ quan Kiểm toán Tối cao là một cơ quan kiểm toán từ bên ngoài.
2. Kiểm toán nội bộ đóng vai trò trợ giúp cho lãnh đạo đơn vị mà nó trực thuộc. Tuy vậy, tính độc lập về tổ chức và thực hiện chức năng của nó tuỳ thuộc nhiều vào từng cơ cấu tổ chức cụ thể.
3. Với tư cách là một cơ quan kiểm toán từ bên ngoài, Cơ quan Kiểm toán Tối cao có nhiệm vụ kiểm tra hiệu năng của kiểm toán nội bộ. Nếu kiểm toán nội bộ được đánh giá là có hiệu quả thì bất kể quyền được tiến hành kiểm toán toàn diện của Cơ quan Kiểm toán Tối cao. cũng cần phải nỗ lực để đạt được sự phân định nhiệm vụ được giao một cách hợp lý và đạt được sự hợp tác giữa Cơ quan Kiểm toán Tối cao và kiểm toán nội bộ.
Khoản 4. Kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động
1. Nhiệm vụ gắn liền với các Cơ quan Kiểm toán Tối cao là kiểm toán tính hợp pháp và hợp lệ của công tác quản lý tài chính và kế toán.
2. Ngoài loại hình kiểm toán nêu trên - loại hình kiểm toán mà ý nghĩa và tầm quan trọng của nó là không thể tranh cãi, còn có một loại hình kiểm toán khác, tập trung vào hoạt động, hiệu năng, hiệu quả và tính kinh tế của hành chính công. Loại hình kiểm toán này không chỉ kiểm toán các khía cạnh cụ thể của công tác quản lý mà cả hoạt động quản lý bao trùm, gồm cả khâu tổ chức và hệ thống hành chính.
3. Đối tượng kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao – tính hợp pháp, tính hợp lệ, tính hiệu quả, hiệu năng, và tính kinh tế của công tác quản lý tài chính – có tầm quan trọng tương đương nhau. Vấn đề còn lại của Cơ quan Kiểm toán Tối cao là quyết định xem nên chú trọng ưu tiên vào đối tượng nào trước.
II. Tính độc lập
Khoản 5. Tính độc lập của Cơ quan Kiểm toán Tối cao
1. Cơ quan Kiểm toán Tối cao chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách khách quan và hiệu quả khi nó độc lập với đơn vị được kiểm toán và được bảo vệ chống lại các ảnh hưởng từ bên ngoài.
2. Mặc dù các cơ quan của nhà nước không thể có sự độc lập tuyệt đối, vì dù sao về tổng thể các cơ quan này vẫn là một bộ phận của nhà nước đó, tuy nhiên, Cơ quan Kiểm toán Tối cao vẫn cần phải có sự độc lập về tổ chức và chức năng đủ để hoàn thành các nhiệm vụ của mình.
3. Việc thành lập Cơ quan Kiểm toán Tối cao và mức độ độc lập cần thiết của nó càn được quy định trong Hiến pháp; các chi tiết cụ thể có thể nêu trong các điều luật. Đặc biệt, Toà án Tối cao cần phải có sự bảo vệ đầy đủ về mặt luật pháp nhằm chống lại các tác động từ bên ngoài đối với sự độc lập và thẩm quyền kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao.
Khoản 6. Tính độc lập của các nhân viên và quan chức của Cơ quan Kiểm toán Tối cao
1. Tính độc lập của Cơ quan Kiểm toán Tối cao không thể tách rời tính độc lập của nhân viên của nó. Nhân viên ở đây được hiểu là: những người phải đưa ra các quyết định đại diện cho Cơ quan Kiểm toán Tối cao và phải chịu trách nhiệm về bên thứ ba; các thành viên của cơ quan ra quyết định hay người đứng đầu của Cơ quan Kiểm toán Tối cao
2. Tính độc lập của các nhân viên cũng cần phải được quy định trong Hiến pháp. Đặc biệt, thủ tục bãi miễn (cũng được quy định trong Hiến pháp) không được làm ảnh hưởng đến tính độc lập của các nhân viên. Cách thức bổ nhiệm và bãi nhiệm nhân viên tuỳ thuộc vào Hiến pháp của từng quốc gia cụ thể.
3. Do đặc điểm nghề nghiệp,các kiểm toán viên của Cơ quan Kiểm toán Tối cao không thể bị tác động do ảnh hưởng của đơn vị được kiểm toán và cũng không thể phụ thuộc vào các đơn vị này.
Khoản 7. Sự độc lập về tài chính của Cơ quan Kiểm toán Tối cao
1. Cơ quan Kiểm toán Tối cao phải được cung cấp các phương tiện tài chính để có thể hoàn thành các nhiệm vụ của mình.
2. Nếu cần, Cơ quan Kiểm toán Tối cao có quyền đề nghị cung cấp các phương tiện tài chính trực tiếp với các cơ quan hoạch định ngân sách quốc gia.
3. Trong phạm vi trách nhiệm của mình Cơ quan Kiểm toán Tối cao có quyền sử dụng các quỹ được phân bổ cho mình theo một kênh ngân sách riêng.
III. Quan hệ với Nghị viện,chính phủ và chính quyền
Khoản 8. Quan hệ với Nghị viện
Tính độc của Cơ quan Kiểm toán Tối cao được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm, nó còn được trao quyền tự chủ và chủ động rất cao ngay cả khi là một cơ quan của Nghị viện, thực hiện kiểm toán theo lệnh của Nghị viện. Quan hệ giữa Cơ quan Kiểm toán Tối cao và Nghị viện được quy định trong Hiến pháp của từng quốc gia theo điều kiện và yêu cầu của mỗi nước.
Khoản 9. Quan hệ với chính phủ và chính quyền
Cơ quan Kiểm toán Tối cao thực hiện kiểm toán các hoạt động của chính phủ, các cơ quan hành chính của chính phủ và bất kỳ cơ quan trực thuộc nào khác.
Tuy vậy, không có nghĩa là chính phủ trực thuộc Cơ quan Kiểm toán Tối cao. Đặc biệt, chính phủ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và duy nhất đối với các hoạt động và sai sót của mình và không thể chối bỏ trách nhiệm với lý do la đã qua hoạt động kiểm toán và đã có ý kiến chuyên môn của Cơ quan Kiểm toán Tối cao, trừ phi các ý kiến chuyên môn đó được đưa ra với đầy đủ hiệu lực pháp lý và khả năng thực hiện.
IV. Quyền hạn của Cơ quan Kiểm toán Tối cao
Khoản 10. Quyền thanh tra
1. Cơ quan Kiểm toán Tối cao có quyền tiếp cận với mọi giấy tờ, tài liệu liên quan đến quản lý tài chính và có quyền yêu cầu (bằng lời nói hay bằng văn bản) các đối tượng được kiểm toán cung cấp bất cứ thông tin nào cần thiết.
2. Cơ quan Kiểm toán Tối cao có quyền quyết định địa điểm tiến hành cuộc kiểm toán cho có lợi nhất: tại đơn vị được kiểm toán hay ngay tại Cơ quan Kiểm toán Tối cao.
3. Thời hạn cung cấp thông tin hay gửi tài liệu, giấy tờ (kể cả bản kết toán) cho Cơ quan Kiểm toán Tối cao quy định theo từng cuộc kiểm toán cụ thể.
Khoản 11. Thực hiện các kết luận của Cơ quan Kiểm toán Tối cao
1. Trong thời hạn do luật định chung hoặc trong trường hợp riêng do Cơ quan Kiểm toán Tối cao quy định, các đơn vị được kiểm toán phải có ý kiến về các kết luận của Cơ quan Kiểm toán Tối cao và đề ra các biện pháp cần thiết trên cơ sở những kết luận kiểm toán.
2. Trong trường hợp các kết Luận của Cơ quan Kiểm toán Tối cao không được đưa ra đúng theo hiệu lực pháp lý và khả năng thực hiện, thì Cơ quan Kiểm toán Tối cao có quyền đề đạt ý kiến với các cơ quan có thẩm quyền để có các biện pháp để xử lý cần thiết và buộc bên có liên quan phải gánh chịu trách nhiệm.
Khoản 12. Ý kiến chuyên môn và các quyền phối hợp khác
1. Trường hợp quan trọng, Cơ quan Kiểm toán Tối cao có thể cung cấp cho Nghị viện và chính quyền các kiến thức nghiệp vụ của mình dưới hình thức các ý kiến chuyên môn, kể cả những góp ý về các đạo luật đang được soạn thảo hoặch các quy chế tài chính khác. Chính quyền tự chịu trách nhiệm đối với việc chấp nhận hay bác bỏ các ý kiến chuyên môn đó. Tuy thế, việc này không thể thay cho những kết luận kiểm toán sau này và không ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động kiểm toán.
2. Mặt khác, quy định về trình tự quyết toán hợp lý và đồng bộ chỉ có thể được thông qua khi có sự nhất trí của Cơ quan Kiểm toán Tối cao.
V. Phương pháp kiểm toán, nhân viên kiểm toán và trao đổi kinh nghiệm giữa các nước
Khoản 13. Phương pháp và quy trình kiểm toán
1. Cơ quan Kiểm toán Tối cao tiến hành cuộc kiểm toán theo một chương trình tự hoạch định. Quyền được yêu cầu kiểm toán của một cơ quan nhất định nào đó vẫn không thể bị ảnh hưởng.
2. Vì một cuộc kiểm toán khó có thể bao quát được tất cả nên Cơ quan Kiểm toán Tối cao thường áp dụng phương pháp chọn mẫu. Tuy nhiên, các mẫu này phải được lựa chọn trên cơ sở một loại hình cho trước và chúng phải có số lượng hợp lý để có thể đánh giá chính xác công tác quản lý.
3. Cần soạn thảo các cẩm nang kiểm toán lưu hành nội bộ để làm phương tiện trợ giúp các kiểm toán viên.
Khoản 14. Nhân viên kiểm toán
1. Nhân viên của Cơ quan Kiểm toán Tối cao phải có đầy đủ năng lực và tư cách đạo đức để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
2. Ngay từ lúc tuyển dụng vào biên chế của Cơ quan Kiểm toán Tối cao cần phải tuyển những nhân viên có kiến thức và năng lực trên mức trung bình, có kinh nghiệm làm việc ở mức thoả đáng.
3. Cần phải quan tâm ở mức cao nhất đến việc bồi dưỡng lý luận và thực tiễn nghiệp vụ cho tất cả nhân viên của Cơ quan Kiểm toán Tối cao cả trong nội bộ, đi học đại học hay trao đổi quốc tế, việc này cần được khuyến khích bằng tất cả phương tiên có thể kể, cả mặt tài chính và phân công công tác. Việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức không nên bó hẹp trong các kiến thức kinh tế, pháp lý kinh doanh khác, chẳng hạn như kiến thức về xử lý dữ liệu điện tử.
4. Để đảm bảo phẩm chất cao của nhân viên kiểm toán, cần định mức lương phù hợp với những đặc điểm riêng của nghề kiểm toán.
5. Nếu nhân viên kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao không thể thực hiện được một cuộc kiểm toán đặc biệt nào đó vì thiếu những kiến thức chuyên ngành liên quan thì có thể mời các chuyên gia bên ngoài tham gia thực hiện.
Khoản 15. Trao đổi kinh nghiệm quốc tế
1. Việc trao đổi kinh nghiệm kiểm toán với các nước trong Tổ chức Quốc tế các qkttc là phương cách hữu hiệu giúp cho các Cơ quan Kiểm toán Tối cao hoàn thành nhiệm vụ của mình.
2. Đến nay, phục vụ cho hoạt động này có các kỳ hội nghị, các cuộc thảo luận đào tạo phối hợp tổ chức với Liên Hiệp quốc và các thể chế quốc tế khác, thông qua các nhóm công tác khu vực và việc xuất bản một tạp chí chuyên ngành.
3. Mở rộng và tăng cường hơn nữa hoạt động trao đổi kinh nghiệm giữa các nước là mong muốn chung của các Cơ quan Kiểm toán Tối cao. Trong đó, đóng vai trò quan trọng hàng đầu là việc đồng bộ hoá các thuật ngữ kiểm toán tài chính công trên cơ sở pháp luật tương đồng.
VI. Báo cáo kiểm toán
Khoản 16. Báo cáo với quốc hội và công chúng
1. Hiến pháp trao quyền và đòi hỏi Cơ quan Kiểm toán Tối cao phải báo cáo thường niên và độc lập các kết luận kiểm toán của mình lên Nghị viện và các Cơ quan công quyền chức năng khác; báo cáo này phải được công khai.Điều này sẽ đảm bao thông tin và thảo luận sâu rộng, tạo môi trường dẽ chịu hơn cho việc thực hiện các kết luận của Cơ quan Kiểm toán Tối cao.
2. Ngoài các báo cáo thường niên, Cơ quan Kiểm toán Tối cao còn có quyền báo cáo các kết luận đặc biệt quan trọng.
3. Bản báo cáo thường niên này phải bao hàm tất cả các hoạt động của Cơ quan Kiểm toán Tối cao; chỉ trong trường hợp có những giá trị cần được bảo vệ hay được pháp luật bảo vệ thì Cơ quan Kiểm toán Tối cao mới phải cân nhắc kỹ lưỡng lợi ích giữa việc giữ kín với việc công khai hoạt động đó.
Khoản 17. Phương pháp báo cáo
1. Các bản báo cáo này phải trình bày sự kiện và nêu đánh giá một cách khách quan và rõ ràng, tập trung vào những vấn đề cốt yếu. Ngôn từ trong báo cáo phải chính xác và dễ hiểu.
2. Ý kiến của các đơn vị được kiểm toán liên quan đến các kết luận của Cơ quan Kiểm toán Tối cao phải được cân nhắc đúng mức.
VII. Thẩm quyền kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao
Khoản 18. Cơ sở pháp lý của thẩm quyền kiểm toán; kiểm toán quản lý tài chính công
1. Thẩm quyền kiểm toán cơ bản của Cơ quan Kiểm toán Tối cao được nêu trong Hiến pháp; các chi tiết cụ thể do luật định.
2. Các quy định cụ thể về thẩm quyền kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao tuỳ thuộc vào điều kiện và nhu cầu của từng quốc gia.
3. Mọi công tác quản lý tài chính cong bất kể tồn tại dưới dạng nào của ngân sách quốc gia đêu là đối tượng kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao. Tách rời các bọ phận quản lý tài chính công khỏi ngân sách quốc gia cũng không thể làm cho các bọ phận đó không là đối tượng kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao.
4. Thông qua công tác kiểm toán, Cơ quan Kiểm toán Tối cao phấn đấu để đạt được một cơ cấu phân cấp ngân sách rõ ràng, một hệ thống kế toán đơn giản và chính xác.
Khoản 19. Kiểm toán các cơ quan công lập và các thể chế khác ở nước ngoài
Một nguyên tắc chung là kiểm toán các cơ quan công lập và các đơn vị thành lập ở nước ngoài đều do Cơ quan Kiểm toán Tối cao tiến hành. Việc kiểm toán các cơ quan này tại trụ sở của nó sẽ cần phải tính đến những hạn chế nêu trong luật quốc tế; tuy nhiên, trong trường hợp được minh chững rõ ràng thì những hạn chế này sẽ được giản lược thông qua vận dụng linh hoạt luật quốc tế.
Khoản 20. Kiểm toán thuế
1. Cơ quan Kiểm toán Tối cao được quyền kiểm toán việc thu thuế ở mức độ tối đa có thể, qua đó kiểm tra việc nộp thuế của các cá nhân.
2. Đầu tiên, kiểm toán thuế là kiểm toán tính hợp pháp và tính hợp lệ, tuy nhiên khi tiến hành kiểm toán việc vận dụng luật thuế, Cơ quan Kiểm toán Tối cao còn có quyền kiểm tra tính hiệu quả và khâu tổ chức thu thuế và các kết quả đạt được trong việc thu ngân sách và nếu có thể thì Cơ quan này có quyền kiến nghị các biện pháp cải thiện với cơ quan lập pháp.
Khoản 21. Kiểm toán các giao dịch công và các công trình công cộng
1. Việc sử dụng các quỹ lớn của các cơ quan công hữu vào các giao dịch, công trình công cộng cũng là một đối tượng kiểm toán đặc biệt của Cơ quan Kiểm toán Tối cao.
2. Mời thầu các công trình công cộng là việc làm phù hợp nhất để lựa chọn được các nhà thầu có giá cả và chất lượng cạnh tranh nhất. Bởi vậy, bất cứ khi nào việc mời thầu các công trình công cộng không được tiến hành, Cơ quan Kiểm toán Tối cao đều có quyền tìm hiểu lí do
3. Khi tiến hành kiểm toán các công trình công cộng, Cơ quan Kiểm toán Tối cao có quyền khuyến khích việc lập các chuẩn mực phù hợp nhằm tiếp tục công tác quản lý tại các công trình đó.
4. Việc thực hiện kiểm toán các công trình công cộng không chỉ xem xét tính hợp lệ của các khoản thanh toán, mà còn tính tới cả hiệu quả của công tác quản lý xây dựng và chất lượng của công trình xây dựng.
Khoản 22. Kiểm toán các thiết bị xử lý dữ liệu điện tử
Mức độ của các quỹ chi dùng cho các thiết bị xử lý dữ liệu điện tử cũng cần phải được kiểm toán. Các cuộc kiểm toán như vậy sẽ căn cứ vào tính hệ thống của cả thiết bị và cần đặc biệt lưu ý đến việc lên kế hoạch để đáp ứng các nhu cầu đặt ra; việc sử dụng một cách kinh tế các thiết bị xử lý dữ liệu; việc sử dụng phù hợp năng lực nhân viên, nhất là trong nội bộ hành chính của đơn vị được kiểm toán; ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích; và độ hữu ích của các thông tin đã qua xử lý.
Khoản 23. Kiểm toán các doanh nghiệp công nghiệp và thương mại có sự góp vốn của khu vực công.
1. Việc tăng cường các hoạt động kinh tế của chính phủ có thể ở dạng các xí nghiệp được thành lập theo tư pháp. Các xí nghiệp diện này cũng sẽ là đối tượng kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao nếu chính phủ thực sự có sự tham gia - đặc biệt là khi sự tham gia này chiếm tỉ lệ lớn hay có ảnh hưởng quyết định
2. Cuộc kiểm toán dạng này được thực hiện ở dạng kiểm toán sau là thích hợp nhất; nó xem xét đến cả tính kinh tế, hiệu quả và hiệu năng.
3. Báo cáo với Nghị viện và công chúng về các xí nghiệp này đều phải tuân theo những quy định về bảo vệ bí mật công nghiệp và thương mại.
Khoản 24. Kiểm toán các đơn vị được trợ cấp
1. Cơ quan Kiểm toán Tối cao được quyền kiểm toán việc sử dụng các khoản trợ cấp lấy từ quỹ công.
2. Khi mục tiêu kiểm toán đòi hỏi - nhất là khi lượng vốn trợ cấp tự nó hay trong tương quan với doanh thu và vốn cảu đơn vị được trợ cấp là rất lớn, thì cuộc kiểm toán có thể mở rộng ra toàn bộ công tác quản lý tài chính của đơn vị này.
3. Việc sử dụng sai mục đích các khoản trợ cấp phải bị yêu cầu hoàn trả.
Khoản 25. Kiểm toán các thể chế siêu quốc gia và quốc tế.
1. Các thể chế siêu quốc gia và quốc tế có các khoản chi tiêu do đóng góp của nhiều quốc gia thành viên cũng cần phải được một cơ quan kiểm toán độc lập, từ bên ngoài tiến hành kiểm toán tương tự như ở mỗi một quốc gia.
2. Mặc dù cuộc kiểm toán dạng này phải phù hợp với cơ cấu và nhiệm vụ của từng thể chế, nhưng cần phải hiểu rằng nó là giống với các cuộc kiểm toán do Cơ quan Kiểm toán Tối cao tiến hành tại các nước thành viên.
3. Để đảm bảo tính độc lập của cuộc kiểm toán như vậy thì các thành viên của cuộc kiểm toán đó phải được chỉ định chủ yếu từ các Cơ quan Kiểm toán Tối cao ../. |