Thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất Trong những tháng đầu năm 2009, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công thương, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã phối hợp, triển khai thực hiện các cơ chế hỗ trợ lãi suất do Thủ tướng Chính phủ ban hành, gồm: (i) Hỗ trợ lãi suất 4%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn của các tổ chức cá nhân vay vốn để sản xuất kinh - doanh, phát sinh trong khoảng thời gian từ 01/02/2009 đến 31/12/2009, thời gian hỗ trợ tối đa là 8 tháng (Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 và Quyết định số 333/QĐ-TTg ngày 10/03/2009); (ii) Hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các tổ chức cá nhân vay vốn trung và dài hạn ngân hàng để thực hiện dự án đầu tư mới để phát triển sản xuất kinh – doanh, thời hạn hỗ trợ tối đa 24 tháng đối với khoản vay phát sinh trong khoảng thời gian từ 01/4/2009 đến 31/12/2009 (Quyết định số 443/QĐ-TTg ngày 04/4/2009); (iii) Hỗ trợ lãi suất vay vốn mua máy móc thiết bị vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn (Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009). Theo đó các NHTM thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay phát sinh trong khoảng thời gian từ 01/5/2009 đến 31/12/2009, đối với khoản vay mua máy móc thiết bị hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay thời hạn hỗ trợ tối đa 24 tháng, đối với khoản vay mua vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn hỗ trợ lãi suất 4% thời hạn hỗ trợ tối đa 12 tháng; (iv) Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện hỗ trợ lãi suất 4%/năm đối với các khoản vay phát sinh trong khoảng thời gian từ 01/5/2009 đến 31/12/2009, thời hạn hỗ trợ tối đa 24 tháng (Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 06/5/2009). Phương thức hỗ trợ lãi suất là khi các NHTM, công ty tài chính, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Quỹ đầu tư phát triển địa phương thu lãi tiền vay của khách hàng, thì giảm trừ số lãi tiền vay phải trả cho khách hàng bằng với số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi suất; Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chuyển số lãi tiền vay đã hỗ trợ cho khách hàng vay trên cơ sở báo cáo của các ngân hàng. Hệ thống ngân hàng đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện kịp thời, đúng đối tượng cơ chế hỗ trợ lãi suất, kết quả như sau: Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến cuối tháng 7/2009 là 403.448 tỷ đồng; trong đó, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của NHTM và công ty tài chính là 389.327 tỷ đồng, Ngân hàng Phát triển Việt Nam là 6.960 tỷ đồng, Ngân hàng Chính sách xã hội là 7.161 tỷ đồng. Cơ cấu dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của NHTM và công ty tài chính: (1) Dư nợ cho vay ngắn hạn là 358.391 tỷ đồng (chiếm 92,1%), cho vay trung và dài hạn là 30.182 tỷ đồng (chiếm 7,75%); (2) Dư nợ của nhóm NHTM nhà nước và Quỹ Tín dụng nhân dân trung ương chiếm 69,9%; nhóm NHTM cổ phần chiếm 23,9%; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài chiếm 4,9%, công ty tài chính chiếm 1,3%; (3) Dư nợ của ngành thương nghiệp chiếm 32,01%; công nghiệp chế biến chiếm 32,5%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,9%; xây dựng chiếm 9,36%...; (4) Dư nợ cho vay của các doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 66,95%; các doanh nghiệp nhà nước chiếm 15,64%; hợp tác xã và hộ gia đình chiếm 17,41%. Cơ chế hỗ trợ lãi suất đã có tác động tích cực nhiều mặt về kinh tế - xã hội: Một là, cơ chế hỗ trợ lãi suất được triển khai kịp thời, nhanh chóng, đúng đối tượng và có tính giám sát cao của các cơ quan hữu quan và đối tượng thụ hưởng; vì thế, đã sớm tạo lòng tin, sự đồng thuận và động lực cho doanh nghiệp và người dân thực hiện các giải pháp kích thích kinh tế của Chính phủ; Hai là, các cấp các ngành, cộng đồng doanh nghiệp, hộ sản xuất mà nòng cốt là hệ thống ngân hàng, đã triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất, khá thông suốt, phù hợp với quy định của pháp luật; Ba là, đồng thời với việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất, chính sách tiền tệ được thực thi nới lỏng một cách thận trọng, tạo điều kiện cho các NHTM duy trì lãi suất kinh doanh ở mức hợp lý, tăng vốn huy động từ nền kinh tế để cho vay với lãi suất thấp (4-6%/năm sau khi được hỗ trợ lãi suất) làm cho tăng trưởng tín dụng 7 tháng đầu năm ở mức cao (22,61%), góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế; Bốn là, theo báo cáo khảo sát của các địa phương và Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất đã đạt được mục tiêu là tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ sản xuất giảm chi phí vay vốn khoảng 30 - 40%, giảm giá thành từ 2,5 - 6%, duy trì và mở rộng sản xuất - kinh doanh, tạo được việc làm cho người lao động, có 91% doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì, phát triển sản xuất - kinh doanh. Năm là, mặt bằng lãi suất thị trường tương đối ổn định, các NHTM huy động vốn từ thị trường để cho vay hỗ trợ lãi suất. Phân tích gói kích thích kinh tế của các nước, giải pháp điều hành kinh tế nước ta trong nhiều năm qua và kết quả của cơ chế hỗ trợ lãi suất mang lại, thì việc thực hiện hỗ trợ lãi suất tiền vay ngân hàng 17.000 tỷ đồng là giải pháp được lựa chọn theo phương thức riêng và tối ưu, phù hợp với điều kiện của nước ta, có hiệu quả và chi phí thấp, đạt được sự nhất trí, đồng thuận cao của các cấp, các ngành và xã hội, kể cả các tổ chức tài chính quốc tế. Nhưng vẫn còn nổi lên một số bất cập: Có sự trùng lắp về đối tượng hỗ trợ lãi suất giữa Quyết định số 131/QĐ-TTg, Quyết định 443/QĐ-TTg và Quyết định số 497/QĐ-TTg; thủ tục cho vay hỗ trợ lãi suất theo Quyết định số 497/QĐ-TTg chặt chẽ hơn so với cho vay theo cơ chế thông thường, nên kết quả đạt thấp; Cơ chế hỗ trợ lãi suất được thực hiện trong ngắn hạn, có phạm vi rộng về đối tượng, địa bàn và các TCTD, định chế tài chính tham gia cho vay, gây khó khăn đáng kể cho việc thanh tra, giám sát của NHNN và các bộ, ngành liên quan; Cơ chế hỗ trợ lãi suất tác động làm cho tín dụng VND tăng trưởng ở mức cao, lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền gửi, làm “méo mó” khối lượng vốn huy động và lãi suất thị trường, ảnh hưởng không thuận lợi đến việc kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và ổn định lãi suất và tỷ giá, biểu hiện là: Lãi suất cho vay VND sau khi được hỗ trợ lãi suất còn khoảng 6%/năm, tương đương (ngang bằng) lãi suất cho vay ngoại tệ và từ ngày 01 tháng 6 năm 2009, các NHTM đồng loạt giảm lãi suất cho vay ngoại tệ xuống còn 3-5%/năm, nhưng do lo ngại rủi ro về biến động tỷ giá, các doanh nghiệp nhập khẩu ít vay ngoại tệ, chuyển sang vay VND rồi mua ngoại tệ, gây sức ép tăng tỷ giá và căng thẳng về thanh khoản ngoại tệ và ngược lại với nhu cầu lớn như vậy nên phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu có tâm lý găm giữ ngoại tệ. Với mức lãi suất cho vay sau khi được hỗ trợ lãi suất còn 6%/năm, thấp hơn khoảng 3 - 4%/năm so với lãi suất huy động VND (kỳ hạn từ 12 tháng trở lên), thì khó có thể kiểm soát được hiện tượng tiêu cực là khách hàng vay VND, chuyển sang tiền gửi để hưởng chênh lệch lãi suất; Các doanh nghiệp vay vốn thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất thường lập phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư với thời hạn trả nợ kéo dài hơn so với thời gian trước đây và chu kỳ sản xuất - kinh doanh để được hưởng hỗ trợ lãi suất dài hơn, kéo theo vòng quay vốn và tín dụng chậm lại, gây rủi ro lớn cho các NHTM nếu như diễn biến kinh tế thế giới và trong nước không thuận lợi. Cơ chế hỗ trợ lãi suất được Chính phủ quy định thực hiện trong năm 2009 và công bố công khai từ khi triển khai cơ chế, như thế doanh nghiệp không bị “sốc” về mặt thời điểm chấm dứt cơ chế. Tuy nhiên, với mức hỗ trợ 4%/năm là khá lớn, làm giảm chi phí tiền vay hơn 30%, xét về mặt tâm lý và hạch toán giá thành sản phẩm thì cần có bước đi giảm dần về đối tượng, lãi suất để ổn định tâm lý. Vấn đề kiểm tra, giám sát việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất Cơ chế hỗ trợ lãi suất là giải pháp quan trọng trong chính sách kích cầu của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi phải triển khai kịp thời, đúng đối tượng, áp dụng trên phạm vi cả nước cho các thành phần kinh tế, có thể phát sinh các vấn đề phức tạp cần phải xử lý trong quá trình tổ chức thực hiện. Xuất phát từ nhận thức đó và được Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất, hệ thống ngân hàng đã trực tiếp và phối hợp với các bộ, ngành, cấp uỷ và chính quyền, địa phương tổ chức thực hiện các biện pháp kiểm tra, giám sát cơ chế hỗ trợ lãi suất: Về phía NHNN: - Thống đốc NHNN thay mặt Ban cán sự Đảng NHNN đã có văn bản đề nghị Bí thư và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các sở, ban, ngành và các ngân hàng trên địa bàn phối hợp thực hiện có hiệu quả, công bằng và hợp lý cơ chế hỗ trợ lãi suất nhằm góp phần duy trì sản xuất - kinh doanh, kích cầu đầu tư đối với kinh tế địa phương. - Thành lập Tổ công tác để triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất, do Phó Thống đốc NHNN làm Tổ trưởng, có đại diện Bộ Tài chính tham gia; thành lập 02 tổ công tác đặc biệt để theo dõi và tháo gỡ vướng mắc tại 02 địa bàn trọng điểm là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội; thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận và xử lý kịp thời các ý kiến của các doanh nghiệp, hộ sản xuất về cơ chế hỗ trợ lãi suất. - Ban lãnh đạo NHNN và các đơn vị chức năng của NHNN đã kiểm tra, đôn đốc, nắm bắt tình hình và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hỗ trợ lãi suất theo kiến nghị của doanh nghiệp, hộ sản xuất, NHTM, cấp uỷ và chính quyền địa phương và các đại biểu Quốc hội. - Trong tháng 7/2009, NHNN thành lập 06 Đoàn kiểm tra do các đồng chí trong Ban Lãnh đạo NHNN làm Trưởng đoàn và lãnh đạo một số Vụ, Cục chức năng làm thành viên, đi chỉ đạo và kiểm tra công tác tự kiểm tra của NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố và các TCTD theo Kế hoạch số 227/KH-NHNN.m, trong đó có nội dung về việc thực hiện cơ chế cho vay hỗ trợ lãi suất. - Công tác thanh tra, giám sát đối với thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất: Thanh tra NHNN và NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố nắm bắt và giám sát thường xuyên tình hình thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất, trường hợp cần thiết đã tiến hành thanh tra bất thường để phát hiện và xử lý các trường hợp cho vay chưa đúng quy định của pháp luật; Thanh tra NHNN đã xây dựng và thực hiện Kế hoạch số 25/KH-TTR.m ngày 19/3/2009 về kiểm tra, thanh tra, giám sát các TCTD trong việc thực hiện quy định của pháp luật về cho vay hỗ trợ lãi suất và Kế hoạch số 227/KH-NHNN.m ngày 04/6/2009; trong đó tập trung kiểm tra, thanh tra: Việc ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất; thống kê và báo cáo cho vay hỗ trợ lãi suất; tuân thủ các quy định của pháp luật về hồ sơ cho vay, chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất; công tác thông tin, tuyên truyền và hướng dẫn khách hàng vay; việc tự kiểm tra, kiểm toán nội bộ, xử lý, thu hồi các khoản cho vay không đúng đối tượng; Đến cuối tháng 7/2009, Thanh tra NHNN và NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố đã tiến hành kiểm tra, thanh tra, có kết luận và xử lý các vấn đề liên quan. Về phía các bộ, ngành, cấp uỷ và chính quyền địa phương và Hiệp hội ngành nghề: Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã phối hợp chặt chẽ, phản ánh các mặt được và xử lý kịp thời các vấn đề nổi lên về cơ chế hỗ trợ lãi suất. Theo Quyết định số 440/QĐ-TTg ngày 03/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức 20 đoàn công tác của các thành viên Chính phủ để kiểm tra, đôn đốc thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó có nội dung thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất. Các Tỉnh uỷ, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã và các tổ chức chính trị, xã hội ở địa phương phối hợp với các NHTM trên địa bàn thực hiện việc thông tin, tuyên truyền và giám sát việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất; tổ chức đối thoại với doanh nghiệp, hộ sản xuất để giải thích cơ chế, nắm bắt và xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình vay vốn hỗ trợ lãi suất. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các Hiệp hội ngành nghề, (Hội nghề gốm, Hiệp hội công thương, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa...) đã tham gia việc tuyên truyền, phổ biến cơ chế hỗ trợ lãi suất cho hội viên, phản ánh với Chính phủ và NHNN các vấn đề khó khăn, vướng mắc để nghiên cứu xử lý. Về phía các NHTM từ Hội Sở chính đến chi nhánh địa phương: Thành lập Tổ thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất; ban hành quy trình, nghiệp vụ và áp dụng công nghệ tin học để cho vay hỗ trợ lãi suất; làm tốt công tác tư tưởng và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, nhân viên về thực hiện nghiêm túc cơ chế hỗ trợ lãi suất; làm tốt công tác thông tin, truyền thông về cơ chế hỗ trợ lãi suất; thiết lập đường dây nóng để giải đáp thắc mắc của khách hàng về hỗ trợ lãi suất. Hướng dẫn doanh nghiệp và hộ sản xuất thực hiện hỗ trợ lãi suất theo quy trình: Phổ biến cơ chế hỗ trợ lãi suất và hướng dẫn khách hàng lập giấy đề nghị hỗ trợ lãi suất; căn cứ vào hồ sơ vay vốn và tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn vay thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất để xem xét cho vay theo cơ chế thông thường; ký kết hợp đồng tín dụng và giải ngân vốn vay. Thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay theo quy định của pháp luật; tiến hành việc kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với khoản cho vay hỗ trợ lãi suất để kịp thời xử lý các trường hợp hỗ trợ lãi suất chưa đúng quy định của pháp luật./. Nguyễn Thu Hà Vụ phó Vụ Chính sách tiền tệ Ngân hàng NHNN |