Trước tình hình hình đó, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã kịp thời có các ý kiến chỉ đạo, định hướng quan trọng nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Tại kỳ họp thứ 5 vào tháng 6/2009, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết điều chỉnh mục tiêu tổng quát và một số chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, cụ thể là: "Tập trung cao độ mọi nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, trong đó mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế". Quốc hội đã quyết định điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009 từ 6,5% xuống khoảng 5%, chỉ số giá tiêu dùng dưới 10%, chỉ tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu từ 13% xuống 3%, mức bội chi ngân sách nhà nước không quá 7% GDP và miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân. Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo quyết liệt triển khai thực hiện nhiều giải pháp cấp bách, trong đó, Chính phủ đã triển khai gói kích cầu nhằm từng bước giải quyết những khó khăn về tài chính của DN, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, ngăn chặn suy giảm kinh tế, hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP 5% trong năm 2009. Thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008, Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành một loạt các chính sách, giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Cùng với những giải pháp, chính sách thuộc nhóm kích cầu đầu tư (như: miễn, giảm, giãn các loại thuế VAT cho hàng hoá là tư liệu sản xuất, thuế thu nhập DN; hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn để sản xuất, kinh doanh, thực hiện đầu tư mới; tăng đầu tư công cho các công trình trọng điểm; qui định các hoạt động mua sắm thuộc ngân sách nhà nước phải sử dụng hàng hoá sản xuất trong nước...) còn có các giải pháp, chính sách thuộc nhóm kích cầu tiêu dùng, cụ thể: Các giải pháp, chính sách về miễn, giảm, giãn thuế thu nhập cá nhân, thuế VAT cho hàng hoá là tư liệu tiêu dùng; Hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư để phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở cho khu vực nông thôn; bảo hiểm giá lúa cho nông dân...; Triển khai Chương trình xúc tiến thị trường thương mại nội địa hỗ trợ DN Việt Nam, hàng Việt Nam hướng về thị trường trong nước, về người tiêu dùng Việt Nam... Theo đánh giá bước đầu, các gói giải pháp kích cầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ, tạo ra “cú hích” cho nền kinh tế đang trong tình trạng trì trệ và suy giảm, được xã hội đồng thuận và đánh giá cao. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm được Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, nền kinh tế nước ta đến nay đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, đồng thời tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Nhờ các giải pháp, chính sách quyết liệt của Chính phủ và tiềm năng của thị trường trong nước, 8 tháng đầu năm 2009, trong điều kiện đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm hơn 70%, xuất khẩu giảm 14,2%; cùng với đầu tư công tăng hơn 48%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 18,4% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố giá, vẫn tăng trên 10%), đã góp phần duy trì mức tăng trưởng GDP khoảng 4%. Các dự báo mới nhất đều cho thấy dù tăng trưởng chậm lại nhưng triển vọng hoạt động kinh tế sẽ dần hồi phục sau sự suy giảm mạnh là tương đối rõ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi nhiều nền kinh tế khác trong khu vực và trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi tình trạng suy thoái. Mặc dù tình hình kinh tế nước ta đến nay đã có nhiều dấu hiệu phát triển khả quan nhưng không phải không còn tiềm ẩn những yếu tố khó lường, có thể gây tác động bất lợi, nhất là trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực vẫn còn diễn biến phức tạp. Do vậy, để có thể nhận diện đúng đắn tình hình kinh tế hiện tại và định hướng sắp tới cần làm gì, yêu cầu đặt ra cho các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý là phải đánh giá toàn diện, khách quan tính hiệu quả của các chính sách, các giải pháp ứng phó đã được triển khai; phân tích những diễn biến mới của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới và các tác động, trên cơ sở đó dự báo tình hình kinh tế nước ta từ nay đến hết năm 2009 và kiến nghị lựa chọn chính sách, giải pháp tiếp theo cho năm 2010 để tham mưu, đề xuất với Quốc hội, Chính phủ về các giải pháp phát triển kinh tế- xã hội cho giai đoạn tiếp theo. Đối với vấn đề giám sát, đánh giá hiệu quả gói kích cầu, chúng tôi cho rằng đây chính là thời điểm quan trọng mà các cơ quan có trách nhiệm cần tập trung phân tích, chỉ rõ những mặt được và những điểm còn hạn chế của việc áp dụng các giải pháp kích thích kinh tế thời gian qua, bao gồm cả quy mô, cơ chế quản lý, phân bổ và hiệu quả của gói kích cầu. Nhiều chuyên gia, các nhà khoa học đã và đang bàn luận rất sôi nổi về vấn đề kiểm soát dòng vốn kích thích kinh tế để đảm bảo dòng vốn này đến đúng đối tượng đã đề ra và để đối tượng này được hưởng lợi nhiều nhất. Nằm trong việc triển khai các gói kích cầu, ngày 04/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 443/QĐ-TTg về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân hàng để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất kinh doanh, kết cấu hạ tầng. Việc hỗ trợ lãi suất được thực hiện từ ngày 1/4/2009 đến ngày 31/12/2011. Mức lãi suất hỗ trợ tiền vay là 4%/năm, tính trên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế trong khoảng thời gian nói trên. Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất bằng đồng VN tính đến ngày 20/8 đã đạt gần 400 ngàn tỷ đồng, ước chiếm khoảng 35% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống ngân hàng; tỷ trọng hỗ trợ cũng chiếm 1/3 toàn bộ cho vay nền kinh tế. Về mặt số lượng, đó là con số không hề nhỏ. Ở các nước, điều kiện để nhận được vốn kích thích kinh tế rất chặt chẽ, khắt khe và được công bố công khai. Vấn đề này ở Việt Nam tuy đã được Chính phủ quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về 2 mặt là tính chặt chẽ, nghiêm khắc của các điều kiện và mức độ công khai về thông tin. Điều này có thể khiến các giải pháp kích thích kinh tế bị chệch mục đích, bị lạm dụng, lợi dụng. Hiện nay đã và đang có những ý kiến cho rằng khu vực trung gian là khu vực đã hưởng lợi nhiều từ gói kích thích kinh tế hơn là khu vực trực tiếp sản xuất. Theo một số thống kê bước đầu và qua giám sát thực tế cho thấy, số lượng DN ở khu vực sản xuất có lãi lớn vẫn rất ít. Trong khi đó, nhiều NHTM công bố lãi 6 tháng đầu năm rất cao. Vấn đề này cần được được phân tích, làm rõ. Câu hỏi được rất nhiều chuyên gia kinh tế quan tâm là liệu nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ có phải chỉ tạo ra hoạt động đảo nợ và như vậy nguồn vốn không đi vào nền kinh tế mà vẫn nằm lại tại các tổ chức tín dụng? Lý do đặt ra câu hỏi này là sự tăng trưởng khá nhanh của các chỉ tiêu tiền tệ - tín dụng chỉ trong một thời gian ngắn như vừa qua. Nhìn vào các chỉ tiêu tiền tệ - tín dụng trong thời gian qua, nghi ngờ về hoạt động đảo nợ là có cơ sở. Bởi trong hoàn cảnh nền kinh tế đang gặp khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh chưa thực sự khởi sắc, các DN không có nhiều cơ hội triển khai đầu tư dự án mới hay mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì nguồn vốn tín dụng tăng nhanh được đầu tư vào đâu. Câu hỏi thứ hai được không ít các chuyên gia kinh tế - tài chính quan tâm là liệu nguồn vốn hỗ trợ lãi suất có chảy vào thị trường chứng khoán (TTCK) và thị trường bất động sản (BĐS) hay không? Các chuyên gia lo lắng bởi họ cho rằng hai thị trường này mang tính đầu cơ cao, nguồn vốn chảy vào hai thị trường này không đúng mục tiêu của chính sách kích thích của Chính phủ, đồng thời nguy cơ bong bóng chứng khoán và BĐS tăng lên, nguy cơ tái diễn lạm phát cao gia tăng. Điều này hoàn toàn có lý nếu phần lớn nguồn vốn từ gói kích thích kinh tế của Chính phủ cùng với vốn của các tổ chức tín dụng chảy vào hai TTCK và BĐS. Trên thực tế, sau một thời gian triển khai gói kích thích kinh tế thứ nhất, TTCK và thị trường BĐS đã ấm lên trong khoảng 3 tháng qua. Chỉ số giá chứng khoán trên sàn Hồ Chí Minh đã tăng mạnh, giá trị giao dịch bình quân ngày của cả hai sàn chứng khoán đạt trung bình khoảng 5.000 tỷ đồng trong khoảng thời gian khá dài. Điều này chứng tỏ đã và đang có thêm lượng tiền vốn mới đổ vào TTCK, song có phải từ nguồn kích cầu của Chính phủ không thì không thể xác định một cách chính xác. Đối với sự ấm lên của thị trường BĐS, chắc chắn có sự tham gia từ nguồn vốn của gói kích thích kinh tế. Ngay bản thân các tổ chức tín dụng cũng đã khẳng định việc mở rộng hoạt động cho vay để mua nhà và các dự án đầu tư xây dựng BĐS. Bước đầu có thể nói rằng, trong nguồn vốn từ gói kích thích kinh tế thứ nhất của Chính phủ và các tổ chức tín dụng, một phần nhất định được sử dụng để đảo nợ, chảy vào thị trường BĐS và có thể cả TTCK. Một vấn đề khác liên quan đến hiệu quả, chất lượng của hoạt động bảo lãnh cho DN vay vốn ngân hàng thương mại (NHTM) mà Ngân hàng Phát triển Việt Nam đang thực hiện. Chính sách bảo lãnh cho DN vay vốn của NHTM được Chính phủ đưa ra giải quyết kịp thời khó khăn của DN trong điều kiện khắc phục sự suy giảm và kinh tế và phù hợp với mong mỏi của DN, hợp tác xã. Hoạt động bảo lãnh hiện đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng hồ sơ và giá trị vốn vay có bảo lãnh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chính sách bảo lãnh cho DN vay vốn của NHTM do Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện đã và đang xuất hiện một số vấn đề cần quan tâm, đó là: - Về phía các DN: Do năng lực và trình độ quản trị kinh doanh còn hạn chế, dẫn tới việc chưa xây dựng được kế hoạch, phương án đầu tư sản xuất kinh doanh có hiệu quả; công tác hạch toán kế toán và lập báo cáo tài chính theo quy định chưa đáp ứng đúng quy định, dẫn tới việc xúc tiến thiết lập hồ sơ vay vốn còn nhiều lúng túng, bất cập; năng lực tài chính không đáp ứng đủ điều kiện tham gia thực hiện phương án sản xuất kinh doanh /dự án đầu tư theo quy định (nhất là các DN nhỏ và vừa, hợp tác xã. Vẫn còn tình trạng DN nhận thức chưa đầy đủ về chính sách bảo lãnh vay vốn của Nhà nước (cho rằng thời hạn làm hồ sơ kéo dài, mất cơ hội sản xuất kinh doanh) nên không tiếp cận đến loại hình này. - Về phía các NHTM: Chưa có sự vận động tích cực để đáp ứng nhu cầu về vốn vay của DN (do ảnh hưởng bởi phạm vi, quy mô nguồn vốn cho vay, quy định về phân cấp thẩm quyền quyết định mức vốn cho vay, thời hạn cho vay đối với dự án sản xuất kinh doanh), thực trạng hiện nay số hồ sơ sau khi được Ngân hàng Phát triển Việt Nam chấp thuận ra thông báo bảo lãnh nhưng không được NHTM xem xét ký hợp đồng tín dụng hoặc được chấp thuận cho vay với mức vốn không đáp ứng được nhu cầu của vốn thực hiện dự án đầu tư. Thực tế cho thấy, nguy cơ lạm dụng và sử dụng vốn vay không hiệu quả hoặc sai mục đích là một trong những hạn chế tiềm ẩn của gói kích cầu. Nhà nước sẽ rất khó kiểm tra nếu có trường hợp NHTM và DN tạo những khoản vay ảo với lãi suất hỗ trợ để trục lợi. NHTM sẽ khó đảm bảo DN dùng vốn vay đúng mục đích bởi thiếu thông tin về DN và mối quan hệ tín dụng phức tạp của DN với các ngân hàng khác. Việc vay vốn kích cầu để đảo nợ tại các ngân hàng, hay đầu tư cho những hoạt động khác không nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh chính của DN là có thể xảy ra và đã được nêu trên một số phương tiện truyền thông đại chúng, hay đưa ra tại các hội nghị về kích cầu. Việc thiếu vắng các cơ chế kiểm soát từ Nhà nước đối với các NHTM, đối với các DN trong việc sử dụng vốn vay kích cầu là nguyên nhân gây ra những điều nêu trên. Và nếu như vậy thì hiệu quả của gói kích cầu sẽ bị giảm đi, hoạt động sản xuất sẽ không được vực dậy, nền kinh tế sẽ chậm phục hồi. Một nguy cơ kèm theo là khả năng hoàn vốn lại cho Chính phủ của các DN là thấp. Giá trị gói kích cầu sẽ bị giảm dần, thâm hụt NSNN sẽ tăng lên. Tóm lại: Với việc triển khai gói kích cầu, một lần nữa, chúng ta lại thấy được sự linh hoạt của Chính phủ khi chuyển đổi mục tiêu ưu tiên từ kiềm chế lạm phát sang ưu tiên ngăn chặn suy giảm kinh tế. Trong đó gói kích cầu ngày càng trở thành giải pháp nổi bật và là gói giải pháp tài chính đang được bàn thảo nhiều nhất. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã và đang xuất hiện những tồn tại và hạn chế cần quan tâm. Thực tế cho thấy, tính hai mặt của chính sách là điều luôn luôn được đề cập. Vấn đề là làm sao trong thực thi chính sách phải hạn chế được tính tiêu cực của nó. Câu chuyện kích cầu cũng tương tự như vậy. Những nguy cơ luôn được đặt cạnh cơ hội. Chính vì thế, để kích cầu thực sự là một cơ hội, thì đòi hỏi đồng vốn do người dân đóng góp phải được giám sát chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, đúng đối tượng. Tài liệu tham khảo: Website: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Bộ Kế hoạch - Đầu tư; Bộ Tài chính; Báo cáo hàng tháng của Trung tâm Thông tin, dự báo kinh tế- xã hội - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Các báo: Nhân Dân; Đầu tư; Thời báo Ngân hàng... Nguyễn Thu Hương Chuyên gia kinh tế |