Ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang ngày càng khẳng định vai trò đối với nền kinh tế. Theo thống kê, DNNVV chiếm tới 95% trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số lao động, chiếm 17,26% tổng nộp ngân sách nhà nước. Bên cạnh những đặc điểm thuộc thế mạnh như: vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả; bộ máy tổ chức, quản lý sản xuất gọn nhẹ; có khả năng thâm nhập vào những thị trường ngách và lĩnh vực sản xuất kinh doanh có lợi nhuận không cao; khả năng ứng biến linh hoạt….DNNVV nước ta cũng có những hạn chế như: tồn tại và phát triển tự phát, nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết về kinh tế và kỹ thuật; trình độ quản lý và năng lực tài chính hạn chế, thị trường nhỏ hẹp và khả năng cạnh tranh không cao…Những điểm yếu này khiến cho DNNVV rất nhạy cảm trước những thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội. Vì vậy, trong khủng hoảng kinh tế, số lượng DNNVV thường giảm nhiều do gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, trong đó có vấn đề về nguồn vốn để khắc phục thiệt hại, duy trì hoạt động và tiếp tục đầu tư. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của Nhà nước để hỗ trợ cho DNNVV, với một số lượng đông đảo và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế như hiện nay, khi DNNVV phá sản ồ ạt sẽ không tránh khỏi tác động xấu về kinh tế - xã hội. Mặt khác, việc khôi phục DNNVV thường nhanh chóng hơn so với doanh nghiệp lớn nên sẽ tạo hiệu quả kịp thời cho bài toán tạo việc làm trong thời kỳ khủng hoảng, như khẳng định của Hội đồng doanh nghiệp thế giới : “DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh tế suy thoái”. Nhận thức được điều này, Chính phủ đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ cho DNNVV, trong đó tập trung vào giải pháp về nguồn vốn. Thực hiện gói kích cầu 17.000 tỷ với mục tiêu tạo ra hiệu ứng tín dụng lan toả khoảng 450.000 tỷ, Chính phủ đã chủ trương dành 2.868 tỷ đồng (khoảng 17%) để hỗ trợ 4% lãi suất cho vay đối với DNNVV trong hai năm 2009, 2010. Đến nay, theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến hết ngày 17/9/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất theo chương trình kích cầu của Chính phủ đã đạt 401.061 tỷ đồng. Đối tượng được vay vốn tương đối toàn diện, khối DNNN chiếm 15%, khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước chiếm 68%, còn lại hộ sản xuất chiếm 17% (tương đương 68.000 tỷ đồng) tổng số vốn đã giải ngân. Nhìn chung, nhiều DNNVV là đối tượng gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn suy thoái kinh tế đã được hỗ trợ kịp thời về vốn, giúp ổn định sản xuất và duy trì việc làm cho người lao động. Như vậy, ý nghĩa của kích cầu nhằm đảm bảo an sinh xã hội đã phần nào được đảm bảo. Cho đến nay, khi thời hạn kết thúc gói kích cầu số 1 đang đến gần ( 31/12/2009) chưa có một nghiên cứu hay khảo sát chính thức nào lượng hoá rõ ràng những tác động của gói kích thích kinh tế này đối với các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả chung đạt được, quá trình thực hiện cho vay kích cầu đối với DNNVV còn một số vấn đề cần xem xét: Thứ nhất, điều kiện vay vốn kích cầu còn khắt khe, như doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp, lành mạnh về tài chính…Những yêu cầu này là rào cản DNNVV tiếp cận nguồn vốn vay vì thông thường doanh nghiệp gặp khó khăn không có tài sản lớn thế chấp, hoặc nếu có thì trong điều kiện thủ tục xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản phức tạp như hiện nay, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội vay vốn. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp thoả mãn được điều kiện vay vốn kích cầu thì không còn gọi là khó khăn nhưng lại được vay vốn. Thứ hai, trong trường hợp doanh nghiệp có tài sản bảo đảm thì việc định giá tài sản của ngân hàng vẫn rất thấp so với giá trị thị trường. Thông thường, doanh nghiệp có tài sản là bất động sản thường dễ vay hơn; đối với tài sản là hàng tồn kho luân chuyển, các khoản phải thu, máy móc tự chế, nguyên vật liệu thường rất khó được ngân hàng chấp nhận, nếu được chấp nhận thì được định giá thấp không đáp ứng quyền lợi của doanh nghiệp. Thứ ba, quy định của ngân hàng về thời gian giải ngân còn bất cập. Tại một diễn đàn chuyên đề về vay vốn kích cầu do Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, nhiều doanh nghiệp phản ánh: “Thời gian làm thủ tục vay quá dài, trong khi thời gian giải ngân thì quá ngắn”. Ví dụ, đại diện công ty Anh Khoa cho biết Doanh nghiệp này được vay 5,5 tỷ đồng từ nguồn vốn kích cầu nhưng ngân hàng yêu cầu phải giải ngân toàn bộ khoản vay trong 20 ngày với các điều kiện kèm theo là phải có hoá đơn VAT, thanh toán qua ngân hàng ... Với quy mô hoạt động nhỏ và vừa, việc giải ngân hết vốn vay trong thời gian ngắn thực sự là khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện kinh tế suy thoái, sức tiêu thụ sụt giảm và nhiều doanh nghiệp phải hoạt động cầm chừng như hiện nay. Thứ tư, DNNVV gặp khó khăn trong việc minh bạch hoá tài chính nhằm thoả mãn điều kiện vay vốn của ngân hàng. Nhiều DNNVV không đáp ứng được yêu cầu này do tổ chức và hoạt động từ nguồn vốn góp của gia đình, bạn bè, người thân…nên sổ sách tài chính không rõ ràng. Mặt khác, phần lớn DNNVV trong ngành chế biến, gia công, thủ công mỹ nghệ…mua nguyên liệu trực tiếp từ nông dân, thanh toán bằng tiền mặt, không có hoá đơn chứng từ nên không thể chứng minh sự minh bạch tài chính của mình theo yêu cầu của ngân hàng. Thứ năm, việc giám sát kích cầu chưa được thực hiện tốt nên có thể dẫn đến những hiện tượng sử dụng vốn vay không đúng chủ trương của Nhà nước: dùng vốn vay ưu đãi để đảo nợ, vốn vay chảy ngược vào ngân hàng để hưởng chênh lệch lãi suất giữa vốn vay và vốn gửi, vốn vay đổ vào thị trường chứng khoán hoặc bất động sản… Những bất cập trên là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngân hàng giải ngân chậm trong khi DNNVV tiếp tục khát vốn. Gói kích thích kinh tế thứ hai có thể được triển khai sau khi kết thúc gói thời hạn 31/12/2009, vì vậy để khắc phục những bất cập nêu trên, thực hiện hiệu quả hơn mục đích kích cầu của Chính phủ, cần thực hiện một số giải pháp sau: Một là, ngân hàng cần nghiên cứu nới lỏng điều kiện vay vốn. Trên thực tế, đảm bảo an toàn thực sự cho vốn vay không phải là tài sản thế chấp mà chính là tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu ngân hàng thực hiện được việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ vào tình hình khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh thì sẽ khắc phục được tình trạng thiếu tài sản thế chấp của DNVVN, và như vậy sẽ mở rộng cửa hơn cho các DNVVN vay vốn ưu đãi. Hai là, ngân hàng hợp tác chặt chẽ hơn với các tổ chức hiệp hội ngành nghề. Đây là bên thứ ba có nhiều thông tin về DNNVV, giúp ngân hàng rút ngắn thời gian ra quyết định cho vay. Đồng thời, các tổ chức này có thể đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn bằng tín chấp, tạo điều kiện cho DNNVV khắc phục những hạn chế về tài sản bảo đảm và năng lực chứng minh về tài chính. Ba là, Chính phủ nghiên cứu kéo dài thời gian thực hiện gói kích cầu để tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn có thời gian triển khai các dự án trung và dài hạn. Việc vay vốn ngắn hạn thường chỉ giúp DNNVV giải quyết những khó khăn trước mắt mà không có điều kiện đầu tư mở rộng, hợp lý hoá sản xuất nhằm thực hiện những kế hoạch dài hơi. Bốn là, gia tăng việc giám sát quá trình sử dụng vốn vay ưu đãi để hạn chế những tiêu cực. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần nghiên cứu xây dựng một quy trình cho vay phù hợp với đặc thù DNNVV với tiêu chí vừa bảo đảm an toàn cho nguồn vốn ngân hàng, vừa linh hoạt và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ưu đãi. Để đảm bảo các gói kích cầu của Chính phủ đạt hiệu quả như mong muốn và việc quản lý các nguồn vốn lớn này được chặt chẽ, tránh được thất thoát, lãng phí đòi hỏi phải có sự tham gia giám sát của toàn đảng, toàn dân, đặc biệt là vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm toán tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của các gói kích cầu này. Hy vọng các thông tin trên sẽ phần nào giúp cho các kiểm toán viên nhà nước tham khảo trong việc phân tích, đánh giá và góp phần phát hiện các tiêu cực tham nhũng khi thực hiện kiểm toán tại các tổ chức tài chính- ngân hàng, các doanh nghiệp và có những kiến nghị kịp thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển./.
Phạm Thị Mai Vui
Đại học Hà Nội |