Hiện nay, vấn đề về gói kích cầu của Chính phủ đang là đề tài nóng trên nhiều diễn đàn kinh tế. Xin cho biết những đánh giá của bà về tác động của chính sách này đối với nền kinh tế nước ta? Chính sách kích cầu được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp khó khăn rất lớn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Lúc đó Chính phủ các nước đều phải đưa ra các giải pháp chống khủng hoảng, trong đó quan trọng bậc nhất là gói kích thích kinh tế, tuy khác nhau về qui mô nhưng đều có 3 yêu cầu cơ bản là phải kịp thời, đúng đối tượng và mang tính chất ngắn hạn. Do vậy kích cầu mang sứ mệnh đặc biệt trong bối cảnh rất đặc biệt. Chúng ta đã đưa ra gói kích cầu kịp thời, tương đối đồng bộ và thực hiện khẩn trương trong bối cảnh đó. Cho đến nay, các báo cáo và phân tích kết quả sử dụng các nguồn tài chính được đưa ra trong gói kích cầu đầu tiên chưa được công bố thật đầy đủ, chi tiết để có thể đánh giá toàn diện và sâu về gói này. Tuy nhiên, như báo cáo ban đầu vừa được Chính phủ trình ra Quốc hội, nhìn chung gói kích cầu đã đạt được kết quả tốt, góp phần quan trọng cho nền kinh tế duy trì tăng trưởng và giúp các lực lượng kinh tế cùng người dân vượt qua thời điểm rất khó khăn vừa qua. Tôi cũng đồng tình với ý kiến của Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội, là có thể nói gói kích cầu đã hoàn thành sứ mệnh “giải cứu” của nó theo chương trình được đưa ra cho năm 2009, và do vậy một số biện pháp như hỗ trợ lãi suất 4% nên dừng ở cuối năm nay như định hướng từ đầu, trừ kích cầu đối với nông nghiệp, nông dân cần tiếp tục thực hiện vì thời gian vừa qua mới làm được ít quá. Chấm dứt vào cuối năm 2009 là đúng tính chất kịp thời, ngắn hạn, còn yêu cầu đúng đối tượng được thực hiện tốt đến đâu thì phải có các báo cáo cụ thể, chi tiết mới đánh giá được. Trong trường hợp đã đến cuối kỳ nhưng còn một số đối tượng doanh nghiệp chưa được hỗ trợ thì cũng không nên kéo dài, bởi không bao giờ có thể cung cấp hết cho mọi đối tượng được. Bà có thể nói rõ hơn về sự tác động đối với một số ngành cụ thể? Theo ước tính, trong khi số lớn doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ về thuế, thì chỉ khoảng 20% doanh nghiệp được hỗ trợ lãi suất. Rõ ràng xét về diện đối tượng thụ hưởng thì hỗ trợ về thuế có tác động rộng rãi, đồng đều hơn, còn hỗ trợ lãi suất có diện đối tượng thụ hưởng hẹp hơn, không đồng đều bằng. Chỉ có 20% doanh nghiệp được hỗ trợ lãi suất cũng có nghĩa là đông đảo doanh nghiệp nhỏ và vừa -đối tượng Chính phủ quan tâm hỗ trợ nhất- chưa được hưởng biện pháp hỗ trợ này, và như vậy là không công bằng với họ. Song con số doanh nghiệp bị phá sản cho tới nay được ghi nhận chỉ có vài nghìn, như vậy chứng tỏ các doanh nghiệp của chúng ta có tinh thần và khả năng tự bươn chải khá tốt để có thể tự mình vượt qua sóng gió. Số lao động bị mất việc làm cũng không cao, đó là điều rất đáng mừng. Tiếc rằng chúng ta chưa có đủ dữ liệu để chứng minh kết quả này có sự đóng góp như thế nào từ gói kích cầu. Trong các ngành, thì xây dựng, thị trường bất động sản và chứng khoán có sự cải thiện rõ rệt nhất, ngành ngân hàng cũng có mức lợi nhuận cao. Công nghiệp tăng trưởng không cao như kỳ vọng, chắc chắn có nguyên nhân lớn là thị trường đầu ra khó khăn. Xuất khẩu tuy tăng về lượng, nhưng kim ngạch không tăng, cũng do nhân tố thị trường và giá. Điều đáng suy nghĩ là trong khi tín dụng tăng khá cao mà tăng trưởng của các ngành lại diễn biến như trên, chính vì vậy mới nổi lên mối nghi ngờ là dòng tiền hỗ trợ lãi suất bị đổ nhiều vào bất động sản và chứng khoán, hoặc quay trở lại các ngân hàng để đảo nợ, hơn là đổ vào các ngành kinh tế “thực” như mục đích chính của kích cầu. Ý của bà là biện pháp hỗ trợ lãi suất sẽ dễ gặp những rủi ro? Vậy, theo bà, trong giai đoạn tới, chúng ta cần hướng đến những biện pháp nào để chính sách kích cầu đạt hiệu quả cao hơn? Nhìn về cách làm, tôi đánh giá cao biện pháp giảm thuế, giãn thuế hơn biện pháp hỗ trợ 4% lãi suất vì tính minh bạch, công bằng, không mang tính chất xin-cho khi chính phủ tuyên bố rõ ràng, công khai về điều kiện, đối tượng, thời hạn và tỷ lệ miễn, giảm hoặc giãn thuế. Phải nói lần này ngành thuế đã làm khá tốt điều đó. Tuy nhiên, nhìn chung biện pháp hỗ trợ về thuế cũng nên dừng lại ở đây, và chỉ nên tiếp tục áp dụng với sự điều chỉnh phù hợp cho một số đối tượng thật cần thiết, như với lĩnh vực xuất khẩu và nông nghiệp. Đây là hai lĩnh vực rất nên hỗ trợ trong thời điểm này, khi mà nhiều nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng và đều áp dụng những biện pháp hỗ trợ khác nhau, đồng thời cũng là thời điểm thế giới đang chấp nhận các biện pháp đó. Nếu hỗ trợ vào thời điểm khác cho xuất khẩu thì rất khó được chấp nhận. Tất nhiên là chúng ta cần khôn khéo chọn những cách làm phù hợp với các qui định của WTO, để tránh bị “thổi còi”. Theo tôi, chúng ta nên hỗ trợ trực tiếp, từ gốc cho người nông dân, người làm hàng xuất khẩu ở các làng nghề, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ cho công tác nghiên cứu thị trường trong bối cảnh thế giới thay đổi sau khủng hoảng và cho sự phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ xuất khẩu. Gói kích cầu thứ 2 đang được bàn đến theo tôi nên tập trung vào những biện pháp mang tính chất hỗ trợ phát triển trung hạn và dài hạn thì hơn. Những biện pháp này nếu thiết kế tốt sẽ giúp chúng ta nâng cao năng lực cạnh tranh một cách cơ bản, lâu dài, các nguồn lực sẽ được phân bổ công bằng, hiệu quả hơn, và sẽ tạo được lợi ích rộng lớn hơn trong xã hội, từ người sản xuất kinh doanh đến người tiêu dùng. Bản thân các chính sách, các công cụ tín dụng, lãi suất, thuế… cũng cần chuyển cả về mục tiêu và cách thức điều hành theo hướng phục vụ sự phát triển nền kinh tế trong trung hạn và dài hạn, gắn với yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và với các chương trình cải cách đã đề ra cho chính các lĩnh vực đó. Đối với tất cả những phần đã thực hiện, rất cần rà soát, kiểm tra sâu việc thực hiện, từ đó xử lý nghiêm đối với các sai phạm cả ở phía cung cấp cũng như phía thụ hưởng, tránh tình trạng chính sách bị thực hiện sai lệch hoặc bị lạm dụng. Vả lại, nếu không xử lý nghiêm thì sẽ bất công đối với những người không được thụ hưởng và đối với những người đóng thuế tạo nên nguồn lực để đưa vào gói kích cầu nói chung. Đánh giá đầy đủ gói kích cầu thứ nhất cũng sẽ cho những bài học để thiết kế và thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển tiếp theo được tốt hơn. Bà vừa nhắc đến vấn đề kiểm tra, rà soát việc thực hiện gói kích cầu, rất có thể đây sẽ là một trọng tâm trong kế hoạch kiểm toán sắp tới của KTNN. Theo bà, để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm toán gói kích cầu, KTNN cần hướng đến những nội dung nào? Đối với các chính sách khẩn cấp, ngắn hạn được đưa ra trong bối cảnh rất đặc biệt như kích cầu, thì chúng ta khó có thể giám sát ngay trong quá trình và càng không thể tiền kiểm mà chỉ có thể thực hiện hậu kiểm. Nếu kiểm toán được trong quá trình thực hiện thì rất tốt nhưng cũng rất khó vì quá cấp tập. Khi đã thực hiện được một khối lượng khá lớn trong khoảng thời gian độ nửa năm vừa qua, đồng thời các đơn vị đã đưa ra những số liệu bước đầu thì KTNN nên tiến hành kiểm toán ngay. Điều này là hết sức cần thiết, vì gói kích cầu của chúng ta rất lớn tính theo tỉ lệ so với GDP, đồng thời cũng rất cần đánh giá đúng gói 1 để chuẩn bị cho gói 2. Hiện nay, trong các báo cáo được công bố, một điều bất hợp lý là các đơn vị thực hiện hỗ trợ lãi suất thường chỉ đưa tổng số tiền đã giải ngân, mà chưa đưa ra đầy đủ những con số cụ thể để xác định số tiền đó đã được hỗ trợ như thế nào, cho ai, có đúng mục tiêu hay không. Khi đưa ra tiêu chí kích cầu, Chính phủ đã định hướng ưu tiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa với lý do đây là đối tượng khó khăn nhất nhưng cũng tạo ra nhiều việc làm nhất, điều này thể hiện rõ Chính phủ rất mong muốn vừa hỗ trợ đông đảo doanh nghiệp, vừa cố gắng giảm áp lực thất nghiệp có thể phương hại tới đông đảo người lao động. Chính phủ cũng xác định rõ những ngành sản xuất được ưu tiên hỗ trợ, như xuất khẩu, nông nghiệp, thủy sản, một số ngành công nghiệp. Nhưng trên thực tế các ngân hàng chỉ công bố tỉ lệ cho vay hỗ trợ lãi suất chia cho 3 loại hình DNNN, DN tư nhân, HTX và các khu vực khác… Những con số này không nói lên gì nhiều, trong khi những con số cụ thể hơn, cần thiết hơn như có bao nhiêu phần trăm số vốn vay có hỗ trợ lãi suất đến được với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đấy khối này giữ được bao nhiêu việc làm, bao nhiêu phần trăm đến với từng ngành được ưu tiên thì không thấy công bố. Tôi cũng không hiểu vì sao mà chưa có được những con số đó, bởi vì cho ai vay, vay nhằm mục đích gì, doanh nghiệp đi vay thuộc ngành hàng nào, qui mô nào, chắc chắn các ngân hàng phải biết rất rõ, và với mức độ tin học hóa trong ngành ngân hàng hiện nay thì họ có thể tổng hợp báo cáo hàng ngày mà không khó khăn gì. Tôi rất mong Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm tra giám sát sâu hơn, và KTNN tiến hành kiểm toán ngay các ngân hàng thương mại về việc này, để đáp ứng mối quan tâm của nhà nước và xã hội về kết quả thực hiện kích cầu hỗ trợ lãi suất. Bên cạnh đó, KTNN cũng nên đi vào một số vấn đề như trong số khoảng 20% doanh nghiệp tiếp cận được với gói kích cầu hỗ trợ lãi suất, liệu có tình trạng “nước chảy chỗ trũng” không, nguồn tiền doanh nghiệp vay được đã được sử dụng như thế nào, nhất là với những doanh nghiệp vay được các khoản lớn. Lợi nhuận của các ngân hàng cũng là vấn đề cần làm rõ. Thời gian vừa qua, trong khi các ngân hàng ở nhiều nước khác đều liêu xiêu, trong khi đa số các doanh nghiệp trong nước bị khó khăn, lợi nhuận giảm sút hoặc thua lỗ, thì các ngân hàng thương mại Việt Nam lại báo cáo kết quả kinh doanh với lợi nhuận rất cao. Rất mong KTNN có thể lý giải được những nguyên nhân đích thực của kết quả này, liệu có liên quan thế nào với việc thực hiện gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% hay chỉ nhờ các ngân hàng của ta tài giỏi hơn người. Đối với chính sách giãn thuế, miễn giảm thuế cũng nên xem, bên cạnh rất nhiều mặt được, phải chăng chính sách này đã được áp dụng quá rộng, cho cả những đối tượng chưa thực cần hoặc đáng được hưởng. Đối với cả 2 chính sách hỗ trợ lãi suất và thuế, KTNN rất nên so sánh giữa các khu vực thụ hưởng, đánh giá xem khu vực nào khi được hỗ trợ thực sự mang lại hiệu quả cho nền kinh tế hoặc đông đảo người dân, và khu vực nào chỉ mang lại hiệu quả cho một số đối tượng nhất định. Cũng nên xem trong khi thực hiện kích cầu, chúng ta có làm méo mó môi trường cạnh tranh, tạo nên sự ỷ lại ở một số đối tượng không. Một điều rất đáng quan tâm là gói kích cầu của chúng ta chưa được thực hiện thoả đáng cho lĩnh vực nông nghiệp. Theo thông tin từ báo chí, kích cầu cho nông nghiệp mới chỉ khoảng hơn 400 tỷ đồng, trong khi đây là khu vực rất rộng lớn. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy, kích cầu cho nông nghiệp sẽ mang lại hiệu quả cao nhất đối với xã hội bởi nó hỗ trợ được đối tượng đông đảo nhất và kinh tế nhất. Tiếc rằng, khu vực đáng được hưởng gói kích cầu nhiều lại chỉ được hưởng quá ít. Theo tôi, nên đi sâu phân tích, tính toán vấn đề này để tới đây chúng ta làm cho tốt hơn. Nếu hỗ trợ đầy đủ cho lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là hỗ trợ về kỹ thuật, tôi tin sẽ giúp cho toàn bộ nền kinh tế của chúng ta tốt lên trong dài hạn chứ không chỉ trong ngắn hạn. Chính sách kích cầu đã đi được nửa chặng đường đầu tiên. KTNN vào cuộc lúc này là hết sức cần thiết, để làm sáng rõ hơn một bức tranh kinh tế chưa thật rõ nét, để đánh giá đầy đủ, đúng mức những mặt được và chưa được trong thiết kế và thực hiện chính sách này, nhằm phát huy mặt tốt và giảm thiểu tiêu cực để các chặng sau chúng ta làm tốt hơn. Tôi rất mong KTNN phát huy vai trò của mình, có tiếng nói lớn, mạnh mẽ và quyết liệt hơn, không chỉ riêng với cuộc kiểm toán này. Xin cảm ơn những ý kiến đóng góp của bà! Đinh Hiền (thực hiện) |