Tác động tích cực từ chính sách kinh tế Trước tình hình đó, ngay từ những ngày đầu thực hiện kế hoạch năm 2009, Chính phủ đã triển khai hàng loạt các biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, trong đó có việc thực thi các gói kích thích kinh tế trị giá hàng tỷ USD. Những giải pháp kích thích kinh tế đáng chú ý nhất là các giải pháp và chính sách về tiền tệ, chính sách tài khóa và an sinh xã hội – lãi suất, bảo lãnh tín dụng, giảm thuế, hỗ trợ xuất khẩu v.v... cùng với các chủ trương tăng đầu tư và hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn, chuyển hướng phát triển thị trường nội địa cho DN..v.v... Qua thực hiện gói kích thích kinh tế bằng biện pháp nới lỏng có kiểm soát của chính sách tiền tệ, tốc độ tăng trưởng tín dụng 7 tháng đầu năm nay đã đạt 22,61%; tổng phương tiện thanh toán tăng 20,22% (năm 2008, tổng phương tiện thanh toán tăng 20%, tín dụng tăng 23,58%), lãi suất thị trường trở về thời kỳ ổn định, tỷ giá VND so với USD tăng 2,12%, hệ thống tổ chức tín dụng hoạt động an toàn. Tính đến 24/9/2009, vốn tín dụng theo Quyết định 131/QĐ-TTg đã giải ngân trên 405.000 tỷ đồng (95%), tín dụng theo Quyết định 443/QĐ-TTg và Quyết định 497/QĐ-TTg trên 34.000 tỷ đồng, giải ngân tín dụng bảo lãnh qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên 10.000 tỷ đồng (59%). Nhìn chung, các giải pháp, chính sách nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội đã được Chính phủ triển khai nhanh, đồng bộ trong 9 tháng qua đã có tác động tích cực đến nền kinh tế và hoạt động của DN. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2009 đạt 4,56%, trong đó quý I tăng 3,1%, quý II tăng 4,5% và quý III tăng 5,76% so với các kỳ tương ứng năm 2008. Mặc dù thấp hơn tốc độ tăng trưởng cùng kỳ các năm trước nhưng Việt Nam vẫn là một trong 12 nước trên thế giới duy trì được tốc độ tăng trưởng dương. Ngành công nghiệp sau khi giảm sâu trong tháng 01/2009 đã liên tục tăng trưởng trong các tháng từ 02 tới 09/2009 với tốc độ tăng dần. Ngành xây dựng (khu vực sử dụng nhiều lao động) trong 9 tháng đầu năm đạt tốc độ tăng trưởng tới 9,7% và hiện là ngành mũi nhọn giúp duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế. Các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục phát triển ổn định. Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng khá cao, đạt 5,91% trong 09 tháng đầu năm 2009. Trong đó, doanh số bán lẻ hàng hoá 09 tháng đầu năm tăng 18,6% (tương đương khoảng 10,18% sau khi loại trừ yếu tố tăng chỉ số giá tiêu dùng). Các ngành dịch vụ bưu chính, viễn thông, vận tải hàng hoá, hành khách liên tục có mức tăng trưởng khá so với các năm trước. Dưới tác động tích cực từ gói kích cầu, khu vực DN đã có bước cải thiện đáng kể trong hoạt động kinh doanh, từ chỗ thua lỗ lớn trong năm 2008, đến nay các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận đã có mức tăng trưởng ấn tượng. Các chính sách miễn, giãn, giảm thuế TNDN, GTGT và TNCN đã giúp các DN khắc phục khó khăn trong sản xuất kinh doanh và kích thích tiêu dùng trong nước. Chính sách hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng đã giúp DN giảm chi phí và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Gói kích cầu đã trực tiếp hỗ trợ DN tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm, tăng cạnh tranh và khả năng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. Những DN được tiếp cận phần vốn đã tìm kiếm được cơ hội duy trì sản xuất, việc làm đổi mới công nghệ, giảm chi phí nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng sản lượng, giảm tồn kho, giảm được lỗ. Bên cạnh đó, những giải pháp và kết quả bước đầu và các chính sách an sinh xã hội như nhà ở, hỗ trợ mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và dãn lao động thiếu việc làm ở các DN sản xuất kinh doanh về nông thôn cũng là những yếu tố tích cực giúp cho DN giảm bớt được khó khăn. Chính những kết quả khả quan từ tình hình kinh tế-xã hội cho phép chúng ta nhận định giai đoạn xấu nhất của thời kỳ suy giảm đã qua. Và cũng khẳng định đường lối, chính sách được đưa ra trong thời gian qua là phù hợp và tạo được sức mạnh có cơ sở để thực hiện được các mục tiêu của Quốc hội đề ra. Nếu khắc phục nhanh những nhược điểm tồn tại, phát huy những mặt tích cực, chúng ta có thể thực hiện tốt hơn, kết quả cao hơn để tạo đà thực hiện nhiệm vụ năm 2010. Những vấn đề phát sinh từ gói kích cầu Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai gói kích cầu thời gian qua đã và đang phát sinh những vấn đề đáng quan tâm. Trên góc độ phản ánh mối quan hệ giữa DN và gói kích cầu, có thể nêu lên một số vấn đề sau: Thứ nhất, việc triển khai hỗ trợ lãi suất 4% đã làm phát sinh tình trạng không công bằng giữa các DN được vay và DN không được vay vốn hỗ trợ lãi suất. Như phần trên của bài viết đã nêu, tính đến 24/9/2009, vốn tín dụng theo Quyết định 131/QĐ-TTg đã giải ngân trên 405.000 tỷ đồng (95%), tín dụng theo Quyết định 443/QĐ-TTg và Quyết định 497/QĐ-TTg trên 34.000 tỷ đồng, giải ngân tín dụng bảo lãnh qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên 10.000 tỷ đồng (59%). Tổng số tiền hỗ trợ lãi suất chuyển cho các tổ chức tín dụng ước thực hiện năm 2009 khoảng 10.000 tỷ đồng (59%). Theo Bộ KH&ĐT, gói hỗ trợ lãi suất đã tạo điều kiện cho các DN tiếp cận lãi suất thấp, thông qua đó, hạ giá thành sản phẩm, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, tuy nhiên Bộ KH&ĐT lại không có số liệu chứng minh cụ thể. Vấn đề đáng quan tâm là do có nhiều quy định chưa thật sự phù hợp nên các hộ nông dân, các hợp tác xã, tổ hợp tác vẫn khó tiếp cận các chính sách hỗ trợ cụ thể, bao gồm cả chính sách hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất mua máy móc thiết bị. Nhu cầu của phần lớn các hộ nông dân muốn được hỗ trợ để có vốn lưu động sản suất, trong khi quy định phải trả hết nợ cũ mới được vay mới, do đó nhiều người không đủ điều kiện để được vay nguồn vốn ưu đãi này. Theo phản ánh của Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam và Hiệp hội các làng nghề Việt Nam thì chỉ có dưới 10% các hội viên, tổ chức thành viên của các tổ chức này có nhu cầu đã được vay từ các nguồn vốn kích cầu. Còn theo các đánh giá khác nhau, có tới 80% - 92% số DN không được hưởng chính sách ưu đãi hỗ trợ lãi suất và tổng tín dụng ưu đãi lãi suất cũng chỉ chiếm khoảng 80% tổng tín dụng. Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay 4% là quá lớn, nếu kéo dài sẽ phát sinh tâm lý ỷ lại sự hỗ trợ của Nhà nước. Bên cạnh đó, thực tế triển khai cho thấy đã có sự trùng lắp về đối tượng hỗ trợ lãi suất; việc triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ làm tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao, gây sức ép tăng lãi suất và lạm phát. Do lãi suất vay VND sau hỗ trợ lãi suất thấp tương đương cho vay bằng USD nên các DN nhập khẩu chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, gây sức ép tăng tỷ giá và căng thẳng thanh khoản trên thị trường ngoại hối. Xuất hiện một số trường hợp DN có vốn gửi vào ngân hàng thương mại để hưởng lãi suất cao (từ 7-10%/năm), nhưng vẫn vay vốn VND để hưởng hỗ trợ lãi suất 4%/năm hoặc vay vốn VND rồi chuyển sang tiền gửi để hưởng chênh lệch lãi suất, hoặc lập phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư với thời hạn trả nợ kéo dài hơn so với chu kỳ sản xuất, thời hạn hoàn vốn để hưởng hỗ trợ lãi suất. Thứ hai, chính sách bù lãi suất có một số hạn chế tiềm tàng có thể nhận thấy, cụ thể là: chính sách này không trực tiếp giúp giải quyết khó khăn lớn nhất của DN hiện nay là thiếu thị trường; chính sách này có thể không đến được những đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí có thể hỗ trợ nhầm đối tượng do tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước với ngân hàng thương mại và giữa ngân hàng thương mại với DN. Ngân hàng thương mại rất khó kiểm soát việc sử dụng đúng mục đích của đồng vốn do tính có thể hoán đổi mục đích sử dụng của đồng tiền, đồng thời, chi phí cho công tác hậu kiểm của Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ rất tốn kém. Thực tế cho thấy chỉ trong vòng hơn một tuần triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất, riêng 5 ngân hàng thương mại có sở hữu nhà nước đã cho vay 32.000 tỷ đồng trong chương trình hỗ trợ lãi suất. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh như vậy, việc kiểm soát kịp thời và đầy đủ của Ngân hàng Nhà nước là rất khó khăn và tốn kém. Giữa các ngân hàng thương mại và khách hàng, việc thiếu thông tin sẽ khiến nhiệm vụ của ngân hàng thương mại trong việc bảo đảm khách hàng sử dụng vốn hỗ trợ đúng mục đích cũng trở nên khó khăn, đặc biệt là đối với các DN có hoạt động phức tạp và có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng. Nếu không kiểm soát chặt chẽ, các khoản vay này có khả năng được sử dụng không đúng mục đích. Vốn vay được hỗ trợ lãi suất có thể được DN dùng để đầu cơ mua cổ phiếu, tích trữ vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư quá mức vào bất động sản thay vì đưa vào sản xuất kinh doanh. Thứ ba, tác động của giải pháp hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung dài hạn thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong giai đoạn kinh tế toàn cầu đang suy thoái như vừa qua. Bởi lẽ, ít có chủ DN dám mạo hiểm vay vốn ngân hàng trung và dài hạn để đầu tư cho một dự án khi thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trầm lắng. Khó khăn chủ yếu của DN thời gian qua không phải là vốn mà là thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và ngoài nước, thiếu đơn hàng và hợp đồng sản xuất. Không có đầu ra cho sản phẩm hàng hóa sản xuất ra, nên sản xuất bị thu hẹp, hoặc ngừng sản xuất, người lao động bị mất việc làm, ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Bởi vậy, để chính sách kích cầu phát huy được hiệu quả thì phải tạo được đầu ra cho sản phẩm của DN. Nếu không tăng được nhu cầu thị trường, thì dù có kích thích như thế nào cũng không phát huy tác dụng, không giúp ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, vì không có cầu thì DN càng cung nhiều, càng lỗ vốn. Thứ tư, qui trình kiểm tra, giám sát, theo dõi và đánh giá việc thực hiện các giải pháp kích cầu chưa được thiết kế và vận hành một cách đồng bộ. Định hướng chính sách kích cầu chưa rõ ràng và chưa có sự phân định giữa các khái niệm kích cầu hay kích cung, kích cầu,… Các gói chính sách này đều được gộp vào dưới cái tên “kích cầu” trong khi thiết kế của nó, hay tác động thực tế của nó, chưa chắc đã nhằm làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế. Ví dụ chính sách hỗ trợ lãi suất sẽ là kích cầu nếu DN vay vốn đó để đầu tư. Nhưng nếu DN vay vốn đó để đảo nợ thì sẽ không còn gọi là kích cầu được nữa, mặc dù nó vẫn có thể có tác dụng tích cực nào đó. Vấn đề không phải là đảo nợ là xấu hay tốt mà là chúng ta không theo dõi được tiến trình đó và có sự mâu thuẫn giữa chính sách dự định và thực tế chính sách. Về nguyên tắc thì hỗ trợ lãi suất cấm đảo nợ nhưng thực tế thì việc này vẫn diễn ra mà không thể kiểm soát được. Tóm lại Năm 2009 là năm có rất nhiều khó khăn thách thức, nhưng với sự cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn thể nhân dân, bằng những chính sách mạnh mẽ, kịp thời và phù hợp, nền kinh tế đã dần phục hồi trong quý II và quý III, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiềm chế, an sinh xã hội được bảo đảm, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ năm 2010. Theo nhiều dự báo, kinh tế toàn cầu năm 2010 sẽ có chuyển biến tích cực hơn, nhưng khó khăn còn nhiều, những tín hiệu phục hồi vẫn còn yếu, nhất là những nền kinh tế hiện là nguồn đầu tư và thị trường xuất khẩu lớn của nước ta. Kinh tế thế giới vẫn đang biến động phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó lường. Sau khủng hoảng, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và cải cách thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh hơn. Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường có thể sẽ được điều chỉnh lại. Cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và chiến lược thị trường của nhiều quốc gia sẽ có sự thay đổi. Tình hình đó đặt ra những vấn đề mới, tác động đến sự phát triển của nước ta. Xuất phát từ đánh giá về những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và những vấn đề mới phát sinh của năm 2009 sẽ gây khó khăn đến ổn định cân đối vĩ mô, ảnh hưởng đến phát triển trong những năm tiếp theo, chúng tôi cho rằng, năm 2010 cần tập trung nỗ lực thúc đẩy quá trình phục hồi kinh tế và thực hiện một chương trình tổng thể cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng nâng cao sức cạnh tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém của cơ cấu kinh tế, tạo bước khởi đầu vững chắc hơn cho việc xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015. Tiếp tục thực hiện chính sách kích thích kinh tế một cách hợp lý, có sự điều chỉnh thích hợp cả về phương thức và đối tượng theo hướng tập trung cho các mục tiêu trung và dài hạn, như tái cấu trúc nền kinh tế, đầu tư hạ tầng cơ sở, đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường để phục vụ cho việc phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng của nền kinh tế; phát triển thị trường nội địa; khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh./. ThS. Hoàng Thanh Hà Đại học Ngoại thương |